------------
BÀI ĐỌC I ------------
Lời
Chúa trích sách Ngôn sứ I-sai-a
(1) ĐỨC CHÚA
phán với kẻ Người đã xức dầu, với vua Cy-rô: Ta đã cầm lấy tay phải nó, để bắt
các dân tộc suy phục nó, Ta tước khí giới của các vua, mở toang các cửa thành
trước mặt nó, khiến các cổng không còn đóng kín nữa.
(4) Vì lợi ích của
tôi tớ Ta là Gia-cóp, và của người Ta đã chọn là Ít-ra-en, Ta đã gọi ngươi đích
danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta.
(5) Ta là ĐỨC
CHÚA, không còn chúa nào khác; chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta. Dù
ngươi không biết Ta, Ta đã trang bị cho ngươi đầy đủ,
(6) để từ Đông
sang Tây, thiên hạ biết rằng chẳng có thần nào khác, ngoại trừ Ta. Ta là ĐỨC
CHÚA, không còn chúa nào khác. (Is 45, 1. 4-6)
------------
BÀI ĐỌC II ------------
Lời
Chúa trích trong thư thứ nhất của Thánh Phao-lô Tông đồ gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca
(1) Chúng tôi là
Phao-lô, Xin-va-nô và Ti-mô-thê, kính gửi Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca ở trong
Thiên Chúa Cha, và trong Chúa Giê-su Ki-tô. Chúc anh em được ân sủng và bình
an.
(2) Chúng tôi hằng
tạ ơn Thiên Chúa về tất cả anh em. Chúng tôi nhắc đến anh em trong lời cầu nguyện,
(3) và trước mặt
Thiên Chúa là Cha chúng ta, chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm
vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những gì anh em
kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô.
(4) Thưa anh em
là những người được Thiên Chúa thương mến, chúng tôi biết rằng Thiên Chúa đã chọn
anh em,
(5) vì khi chúng
tôi loan báo Tin Mừng cho anh em, thì không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà
còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa. Anh em biết, khi ở
với anh em, chúng tôi đã sống thế nào để mưu ích cho anh em. (I Tx 1, 1-5)
------------
PHÚC ÂM ------------
Tin
Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Mát-thêu
15 Bấy giờ những
người Pha-ri-sêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giê-su phải lỡ lời
mà mắc bẫy.
16 Họ sai các
môn đệ của họ cùng đi với những người phe Hê-rô-đê, đến nói với Đức Giê-su rằng:
"Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường
lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh
giá người ta.
17 Vậy xin Thầy
cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không?"
18 Nhưng Đức
Giê-su biết họ có ác ý, nên Người nói: "Tại sao các người lại thử tôi, hỡi
những kẻ giả hình!
19 Cho tôi xem đồng
tiền nộp thuế! " Họ liền đưa cho Người một quan tiền.
20 Người hỏi họ:
"Hình và danh hiệu này là của ai đây?"
21 Họ đáp:
"Của Xê-da." Bấy giờ, Người bảo họ: "Thế thì của Xê-da, trả về
Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa." (Mt 22, 15-21)
--------------------------------------------------------------------------------
GIỚI
THIỆU CHỦ ĐỀ: Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.
Theo lẽ công bằng
chúng ta phải trả cho tha nhân những gì thuộc về họ. Khi chúng ta nộp thuế cho
chính phủ là chúng ta trả cho chính phủ những gì họ đã phục vụ chúng ta: trật tự
công cộng, giao thông, y tế ... Vấn đề xảy ra là khi con người lỗi đức công bằng:
hưởng thụ mà không chịu đóng góp hay nhận của đóng góp mà không chịu phục vụ.
Trong Phúc Âm hôm nay, các Kinh-sư toa rập với Bè-phái Hêrôđê để giăng bẫy Chúa
bằng câu hỏi: “Có nên nộp thuế cho Caecar?” Họ nghĩ Chúa sẽ không có đường
thóat, nhưng câu trả lời của Chúa không những đã làm cho họ phải câm miệng, mà
còn đòi họ phải tự vấn lương tâm để xem nếu từ bấy lâu nay họ đã lỗi đức công
bình với cả Thiên Chúa và với tha nhân. Hai Bài đọc I và II mời gọi chúng ta
suy nghĩ để nhận ra những gì thuộc về Thiên Chúa.
KHAI
TRIỂN BÀI ĐỌC:
[1] Bài
đọc I: Thiên Chúa làm mọi sự qua mọi người.
[1.1] Thiên Chúa chọn Vua Cyrus: Tuy
Cyrus, Vua Ba-Tư, là Dân Ngọai và không biết Thiên Chúa; nhưng Thiên Chúa đã chọn
và xức dầu cho ông. Chính Thiên Chúa đã nói với Vua Cyrus: “Ta đã gọi đích danh
ngươi, đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta. Ta đã trang bị
cho ngươi đầy đủ, dù ngươi không biết Ta, để từ Đông sang Tây, thiên hạ biết rằng
chẳng có thần nào khác, ngoại trừ Ta.” Sự xử dụng chủ từ “Ta” nhiều lần nói lên
tính chủ động của Thiên Chúa, con người chỉ giữ vai trò thụ động hay đáp trả.
Ngài cũng cho Vua Cyrus chinh phục đế quốc Babylon và các dân tộc: “Ta đã cầm lấy
tay phải nó, để bắt các dân tộc suy phục nó, Ta tước khí giới của các vua, mở
toang các cửa thành trước mặt nó, khiến các cổng không còn đóng kín nữa.”
[1.2] Thiên Chúa dùng Vua Cyrus cho một
mục đích: là để giải phóng Israel khỏi lưu đày như Ngài đã nói rõ: “Vì lợi ích
của tôi tớ Ta là Giacóp, và của người Ta đã chọn là Israel.” Năm 587 BC, Thiên
Chúa dùng Vua Babylon Nebuchanezza như chiếc roi để sửa phạt dân Do-Thái. Vua
Babylon đã chinh phục vương quốc Judah, phá hủy Đền Thờ, và bắt tất cả vua quan
cũng như dân sang lưu đày bên Babylon. Sau một thời gian thanh luyện ở chốn lưu
đày, như Thiên Chúa hứa qua Tiên tri Isaiah, Ngài sẽ cho những người sống sót
trở về và xây dựng lại giang sơn. Đó là lý do tại sao Ngài chọn Vua Batư Cyrus,
ban cho Vua thắng được Đế-quốc Babylon, và thiết lập Đế-quốc Ba-Tư. Sau khi đã
thắng trận, chính Nhà Vua đã ký sắc lệnh cho dân Do-Thái hồi hương và cho họ được
xây dựng lại Đền Thờ. Hơn nữa, Nhà Vua còn trả lại những tài sản đã trưng dụng
của Đền Thờ và cung cấp các vật liệu cần thiết để họ sớm hòan tất.
[1.3] Thiên Chúa dùng các vua như khí cụ
để hòan thành những gì Ngài muốn: Lịch sử chứng minh mọi quyền bính đến từ
Thiên Chúa như chính Thiên Chúa đã lặp đi lặp lại trong Bài đọc I: “Ta là Đức
Chúa, không còn chúa nào khác; chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta.” Chúa
dùng Vua Babylon như cái roi để sửa phạt người Do-Thái; nhưng sau khi họ đã ăn
năn trở lại, Chúa dùng Vua Ba-Tư đánh bại Vua Babylon như bẻ gẫy cái roi, để
đưa dân Do-Thái hồi hương. Vua Babylon chẳng biết Thiên Chúa và cũng chẳng biết
kế họach của Thiên Chúa, nhưng ông vẫn phải thi hành kế họach Thiên Chúa, trong
khi thi hành ông vẫn nghĩ là thắng vương quốc Judah bằng sức mạnh quân đội của
mình. Vua Ba-Tư có thể nghĩ mình đã thi ân hay người Do-Thái có thể cám ơn Vua
Ba-Tư, nhưng người họach định mọi sự là chính Thiên Chúa.
[2] Bài
đọc II: Biết ơn và cám ơn đúng chỗ.
Con người thường
rất bất bình khi thấy những cố gắng của mình bị tước đọat và trao cho người
khác, nhưng rất nhiều lần con người đã tước đọat công ơn của Thiên Chúa: hoặc lấy
làm của mình hoặc gán cho người khác. Thánh Phaolô dạy chúng ta một bài học quí
giá: phải trả cho Thiên Chúa những gì thuộc Thiên Chúa. Ngài đã chuẩn bị mọi sự
cho Hội Thánh Thessalônica.
[2.1] Không phải công ơn của người rao
giảng: Tuy là người sáng lập ra cộng đòan Thessalônica, Thánh Phaolô không nghĩ
đó là công ơn của mình khi nhìn thấy mọi sự tốt đẹp triển nở trong cộng đòan;
nhưng ngài biết Thiên Chúa là tác giả của những kết quả này, và ngài cùng với
các môn đệ, tạ ơn Thiên Chúa cho họ: “Chúng tôi hằng tạ ơn Thiên Chúa về tất cả
anh em. Chúng tôi nhắc đến anh em trong lời cầu nguyện, và trước mặt Thiên Chúa
là Cha chúng ta, chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng
tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những gì anh em kiên nhẫn
chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô.”
[2.2] Cũng chẳng phải công ơn của những
người tin: Giống như cách đối xử của Thiên Chúa với các Vua trong Bài đọc I,
Ngài chuẩn bị mọi sự cho các tín hữu để họ có thể tin vào Đức Kitô, sống bác ái
với tha nhân, và kiên nhẫn trông đợi Ngày Chúa Kitô giáng lâm. Khi làm tất cả
những điều này, một người có thể nghĩ đó là công sức và cố gắng của họ, nhưng
Thánh Phaolô đã chỉ cho họ thấy đó là công việc của Thiên Chúa:
(1) Thiên Chúa
đã chọn con người vì thương mến: Bước đầu tiên và là bước quyết định là Thiên
Chúa đã chọn con người chứ không phải con người đã chọn Thiên Chúa. Nếu Thiên
Chúa không chọn, con người sẽ bị hủy diệt trong tội lỗi của mình. Vì Thiên Chúa
chọn, nên Ngài đã chuẩn bị một Kế Họach Cứu Độ cho con người qua biến cố Nhập
Thể, cuộc Thương Khó, và Phục Sinh của Đức Kitô.
(2) Ngài tiếp tục
gởi đến con người các sứ giả loan báo Tin Mừng: Bắt đầu từ các Tông Đồ và các
môn đệ, họ được sai đi bởi chính Đức Kitô. Sau đó, các Tông Đồ và các môn đệ lại
tiếp tục đào tạo những sứ giả và sai đi để loan báo Tin Mừng. Giáo Hội qua các
thời đại vẫn tiếp tục đào tạo và sai đi những nhà rao giảng Tin Mừng. Chính
Thánh Phaolô cũng từng đặt câu hỏi: Làm sao có đức tin nếu không có những người
rao giảng Tin Mừng?
(3) Thiên Chúa
ban Thánh Thần để soi lòng mở trí các tín hữu hiểu biết những lời rao giảng:
Đây là yếu tố quyết định và Thánh Phaolô cắt nghĩa rất hay hôm nay: “Vì khi
chúng tôi loan báo Tin Mừng cho anh em, thì không phải chỉ có lời chúng tôi
nói, mà còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa.”
(4) Cuộc sống chứng
nhân của các môn đệ Chúa: Không chỉ rao giảng bằng lời nói, nhưng những người
rao giảng Tin Mừng còn làm chứng cho Thiên Chúa bằng chính cuộc sống của mình:
“Anh em biết, khi ở với anh em, chúng tôi đã sống thế nào để mưu ích cho anh
em.”
[3] Phúc
Âm: “Của Caesar, trả về Caesar; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.”
[3.1] Bẫy của các Kinh-sư: Bấy giờ các
Kinh-sư đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Chúa Giê-su phải lỡ lời mà mắc bẫy.
Họ sai các môn đệ của họ cùng đi với những người phe Hêrôđê đến gặp với Đức
Giêsu. Mục đích của họ là dùng người Hêrôđê để bắt Chúa Giêsu nếu trả lời:
“không” và dùng các môn đệ như sức ép nếu Chúa trả lời “có.” Bắt đầu bằng lời
khen chóp lưỡi đầu môi: "Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật
và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy
không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. Vậy xin Thầy cho biết ý kiến: có được
phép nộp thuế cho Caesar hay không?"
Họ nói vậy mà
không phải vậy; nếu họ tin những lời họ nói, họ sẽ không bao giờ gài bẫy Ngài.
Nhưng Đức Giêsu biết rõ ác ý của họ, nên Người nói với họ: “Tại sao các người lại
thử tôi, hỡi những kẻ giả hình! Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế! Họ liền đưa cho
Người một quan tiền.” Nếu Chúa trả lời “không,” những người Hêrôđê sẽ bắt Chúa
vì dám xúi giục dân chống lại đế quốc Rôma. Nếu Chúa trả lời “có,” Ngài sẽ mất
sự kính trọng của dân, vì đã vào hùa với đế quốc để bắt dân phải đóng thuế. Đối
với các Kinh-sư, chỉ có Thiên Chúa là Chúa thật. Họ quan niệm không cần phải
đóng thuế cho Caecar, và coi những người thu thuế như Dân Ngọai.
[3.2] Cách thóat bẫy của Chúa: Người hỏi
họ: "Hình và danh hiệu này là của ai đây?" Họ đáp: "Của
Caesar." Bấy giờ, Người bảo họ: "Thế thì của Caesar, trả về Caesar; của
Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa." Bằng câu trả lời này Chúa muốn dạy họ 2 điều:
(1) Họ là công
dân của nước trần thế: Theo lẽ công bằng họ phải đóng thuế cho chính phủ để trả
lại những gì chính phủ đã làm cho họ: an ninh, giao thông, y tế ...
(2) Họ là công
dân của Nước Thiên Chúa: Theo lẽ công bằng họ phải trả cho Thiên Chúa những gì
thuộc về Ngài: thời giờ, tài năng, tình yêu ...
--------------------------------------------------------------------------------
ÁP
DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Mọi quyền bính
đến từ Thiên Chúa dù người cầm quyền có biết hay không. Ngài có thể xử dụng nhà
cầm quyền như chiếc roi để đánh phạt dân và có thể bẻ gẫy cây roi khi đã dùng
xong. Mọi thần quyền hay thế quyền đều bị điều khiển bởi Thiên Chúa.
- Niềm tin của
chúng ta có được cũng là do Thiên Chúa: Ngài đã chọn chúng ta trước, Ngài ban
Thánh Thần giúp chúng ta hiểu biết Lời Chúa và tin vào Chúa Kitô, và Ngài gởi
các sứ giả đến rao giảng Tin Mừng cho chúng ta.
- Chúng ta là
công dân của cả hai nước: Nước Trời và nước trần thế. Chúng ta phải suy xét cẩn
thận để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi: “Cái gì thuộc về Thiên Chúa?” Sau đó,
phải mạnh dạn trả Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa. Đồng thời, chúng ta
cũng là công dân của quốc gia trần thế; chúng ta có bổn phận phải đóng góp để
xây dựng quốc gia.
************
Viết bởi LM.
Anthony Đinh Minh Tiên, OP
************
copied from
loinhapthe.com
[SUY NIỆM]
Trả lờiXóaSau khi phục sinh, Chúa Giêsu đã làm một điều quan trọng,
đó là đào tạo những chứng nhân.
Hội Thánh tương lai phải được xây nền vững chắc
trên những con người có kinh nghiệm cá nhân
về cái chết và sự phục sinh của Ngài.
Chính vì thế Ngài đã hiện ra cho Simon,
cho hai môn đệ về Emmau, cho các tông đồ.
Ngài cho họ xem chân tay và Ngài đã ăn bánh
để họ đừng nghi Ngài là ma.
Hơn nữa Ngài còn soi sáng cho họ
để họ hiểu những lời Kinh Thánh nói về Ngài.
Các môn đệ đã là chứng nhân, đã tử đạo
để làm chứng cho điều mình xác tín.
Mỗi năm Hội Thánh dành một ngày Chúa Nhật
để nhắc chúng ta nhớ đến bổn phận của mình,
bổn phận truyền giáo cho thế giới.
“Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân”
Chúng ta phải tiếp tục sứ mạng của các tông đồ,
vinh dự đứng vào hàng ngũ các chứng nhân.
Ðể truyền giáo, chúng ta phải quen thân với Chúa Giêsu,
có kinh nghiệm gặp gỡ Ngài thật sâu lắng,
sống cái chết của Ngài mỗi ngày
và nếm được niềm vui phục sinh Ngài ban tặng.
Ðể truyền giáo cần có nhiều tình yêu:
tình yêu đối với Chúa Giêsu và đối với con người.
Chính vì mến yêu Ngài
mà ta muốn Ngài được mọi người nhận biết.
Chính vì mến yêu mọi người
mà ta muốn chia sẻ hạnh phúc mình đang hưởng.
Thế giới hôm nay đầy lạc thú và hưởng thụ,
nhưng vẫn là một thế giới buồn.
Buồn vì nạn phá thai, ly dị, tự tử;
buồn vì hận thù, thất vọng và lo âu.
Nhiều bạn trẻ tìm quên trong vui chơi, nghiện ngập,
vì không thấy cuộc sống có ý nghĩa.
Như thế truyền giáo là loan báo tin vui
cho một thế giới buồn.
Ðức Thánh Cha đã nhắn nhủ giới trẻ:
“Hội Thánh ủy thác cho giới trẻ nhiệm vụ hô to lên
cho thế giới biết niềm vui vì gặp được Ðức Kitô...
Hãy đi rao giảng Tin Mừng giải thoát.
Hãy là những điều ấy với tâm hồn hân hoan.”
Chúng ta không thể là những chứng nhân buồn.
Chính cuộc sống của ta phải đầy ắp niềm vui,
sự lạc quan và sự sống của Chúa Phục Sinh.
Chỉ như thế chúng ta mời hy vọng đáp ứng
những đòi hỏi gay gắt của thế giới
đang bước vào đệ tam thiên niên kỷ.
************
Viết bởi LM. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
************
copied from hdgmvietnam.org
[LỜI CẦU NGUYỆN]
Trả lờiXóaLạy Cha,
Cha muốn cho mọi người được cứu độ
và nhận biết chân lý,
chân lý mà Cha đã bày tỏ nơi Đức Giêsu, Con Cha.
Xin Cha nhìn đến hàng tỉ người
chưa nhận biết Đức Giêsu,
họ cũng là những người đã được cứu chuộc.
Xin Cha thôi thúc nơi chúng con
khát vọng truyền giáo,
khát vọng muốn chia sẻ niềm tin và hạnh phúc,
niềm vui và bình an của mình cho tha nhân,
và khát vọng muốn giới thiệu Đức Giêsu cho thế giới.
Chúng con thấy mình nhỏ bé và bất lực
trước sứ mạng đi đến tận cùng trái đất
để loan báo Tin Mừng.
Chúng con chỉ xin đến
với những người bạn gần bên,
giúp họ quen biết Đức Giêsu và tin vào Ngài,
qua đời sống yêu thương cụ thể của chúng con.
Chúng con cũng cầu nguyện
cho tất cả những ai đang xả thân lo việc truyền giáo.
Xin Cha cho những cố gắng của chúng con
sinh nhiều hoa trái. Amen.
************
Viết bởi LM. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
************
copied from hdgmvietnam.org