8 tháng 9, 2014

Thứ Hai Tuần XXIII Thường Niên - Kính Sinh Nhật Mẹ Ma-ri-a

 ------------ BÀI ĐỌC I ------------
Lời Chúa trích sách Ngôn sứ Mi-kha

(1) Phần ngươi, hỡi Bê-lem Ép-ra-tha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa,
từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en.
Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa.
(2) Vì thế, Đức Chúa sẽ bỏ mặc Ít-ra-en cho đến thời một phụ nữ sinh con.
Bấy giờ những anh em sống sót của người con đó sẽ trở về với con cái Ít-ra-en.
(3) Người sẽ dựa vào quyền lực ĐỨC CHÚA, vào uy danh ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Người
mà đứng lên chăn dắt họ. Họ sẽ được an cư lạc nghiệp,
vì bấy giờ quyền lực Người sẽ trải rộng ra đến tận cùng cõi đất.
Người sẽ chiến thắng Át-sua
(4) Chính Người sẽ đem lại hoà bình. Khi Át-sua xâm nhập xứ sở
và giày đạp đất nước chúng ta, chúng ta sẽ đặt bảy mục tử và tám thủ lãnh chống lại chúng. (Mk 5, 1-4a)

------------ PHÚC ÂM ------------
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Mát-thêu

(1) Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham:
(2) Ông Áp-ra-ham sinh I-xa-ác; I-xa-ác sinh Gia-cóp; Gia-cóp sinh Giu-đa và các anh em ông này;
(3) Giu-đa ăn ở với Ta-ma sinh Pe-rét và De-rác; Pe-rét sinh Khét-xơ-ron; Khét-xơ-ron sinh A-ram;
(4) A-ram sinh Am-mi-na-đáp; Am-mi-na-đáp sinh Nác-son; Nác-son sinh Xan-môn;
(5) Xan-môn lấy Ra-kháp sinh Bô-át; Bô-át lấy Rút sinh Ô-vết; Ô-vết sinh Gie-sê;
(6) ông Gie-sê sinh Đa-vít. Vua Đa-vít lấy vợ ông U-ri-gia sinh Sa-lô-môn
(7) Sa-lô-môn sinh Rơ-kháp-am; Rơ-kháp-am sinh A-vi-gia; A-vi-gia sinh A-xa;
(8) A-xa sinh Giơ-hô-sa-phát; Giơ-hô-sa-phát sinh Giô-ram; Giô-ram sinh Út-di-gia;
(9) Út-di-gia sinh Gio-tham; Gio-tham sinh A-khát; A-khát sinh Khít-ki-gia;
(10) Khít-ki-gia sinh Mơ-na-se; Mơ-na-se sinh A-môn; A-môn sinh Giô-si-gia;
(11) Giô-si-gia sinh Giơ-khon-gia và các anh em vua này; kế đó là thời lưu đày ở Ba-by-lon.
(12) Sau thời lưu đày ở Ba-by-lon, Giơ-khon-gia sinh San-ti-ên; San-ti-ên sinh Dơ-rúp-ba-ven;
(13) Dơ-rúp-ba-ven sinh A-vi-hút; A-vi-hút sinh En-gia-kim; En-gia-kim sinh A-do;
(14) A-do sinh Xa-đốc; Xa-đốc sinh A-khin; A-khin sinh Ê-li-hút;
(15) Ê-li-hút sinh E-la-da; E-la-da sinh Mát-than; Mát-than sinh Gia-cóp;
(16) Gia-cóp sinh Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.
(18) Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.
(19) Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo.
(20) Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.
(21) Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ."
(22) Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ:
(23) Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta." (Mt 1, 1-16, 18-23)

--------------------------------------------------------------------------------
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Đức Mẹ là Mẹ Đấng Cứu Thế.

Vào năm 431, Giáo Hội nhóm họp Công Đồng tại Thánh Đường Đức Mẹ Ma-ri-a tại Ephesus, để tuyên bố tín điều "Đức Mẹ Ma-ri-a là Mẹ Thiên Chúa." Lý do có tín điều này vì giám-mục Nestorius của Constantinople, tuy công nhận Chúa Giê-su mang hai bản tính: Thiên Chúa và nhân loại; nhưng vì bản tính nhân loại bị ảnh hưởng bởi tội lỗi, nên Đức Mẹ chỉ là Mẹ Đức Kitô, chứ không phải là Mẹ Thiên Chúa.
Các Bài Đọc hôm nay tập trung trong việc tìm về nguồn gốc của Đức Kitô. Trong Bài Đọc I, tiên-tri Micah nói trước 700 năm về sự xuất hiện của Đấng Thiên Sai: Ngài thuộc giòng tộc của vua David; tuy sinh ra trong thời gian, nhưng Ngài có trước từ đời đời; và tuy sinh ra trong thân phận con người, nhưng Ngài dùng uy danh của Thiên Chúa mà cai trị nhân loại. Trong Phúc Âm, Matthew bắt đầu Tin Mừng với gia phả đầy đủ của Đức Kitô, kéo dài cho tới vua David, tới tổ-phụ Abraham. Đức Kitô tuy sinh ra trong gia phả con người; nhưng không theo cách thức con người, vì Mẹ Ma-ri-a mang thai là bởi quyền năng của Thánh Thần.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

[1] Bài đọc I: Từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Israel.

[1.1] Lời tiên đoán của tiên-tri Micah về Đấng Cứu Thế: Tiên-tri Micah sống khoảng 700 BC, nói về nơi xuất hiện của Đấng Cứu Thế: "Phần ngươi, hỡi Bethlehem Ephrathah, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Judah, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Israel." Bethlehem là chỗ sinh trưởng của vua David, cách khoảng 7 km về phía Nam của Jerusalem. Vua David thuộc chi tộc Judah. Ephrathite là một thị tộc nhỏ bé nhất của chi tộc Judah, thị tộc này định cư ở Ephrathah.
Tiên-tri Micah tiên đoán Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra trong tương lai; "nhưng nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa." Gioan Tẩy Giả cũng tuyên bố về Đấng Cứu Thế như sau: "Người đến sau tôi; nhưng có trước tôi" (Jn 1:15). Cả hai đều có ý muốn nói về Đấng Cứu Thế như sau: xét về nguồn gốc, Đấng Cứu Thế hiện hữu trước; nhưng xét về thời gian sinh ra, Ngài có sau. Trong Tin Mừng Matthew, khi ba nhà đạo sĩ từ phương Đông mất ánh sao dẫn đường, họ vào Jerusalem để hỏi về nơi sinh của vua dân Do-thái. Nhà vua cho triệu tập các thượng tế và kinh sư để tra cứu về nơi sinh của Đấng Cứu Thế, và họ tìm ra tại Bethlehem, xứ Judah, theo lời của tiên tri Micah đã viết (Mt 2:5-6).

[1.2] Uy quyền của Đấng Cứu Thế: Tuy sinh ra như một con người; nhưng "Ngài sẽ dựa vào quyền lực Đức Chúa, vào uy danh Đức Chúa, Thiên Chúa của Người, mà đứng lên chăn dắt họ. Họ sẽ được an cư lạc nghiệp, vì bấy giờ quyền lực Người sẽ trải rộng ra đến tận cùng cõi đất."
Những gì tiên-tri Micah tiên đoán về triều đại của Đấng Cứu Thế đều được hoàn tất bởi Đức Kitô. Ngài được Chúa Cha ban cho mọi quyền hành trên trời cũng như dưới đất; và Ngài dùng quyền này để khống chế ma quỉ, sóng gió, chữa lành mọi bệnh tật, và tiêu diệt kẻ thù cuối cùng của con người là sự chết. Sau đó, Ngài sẽ lên ngôi cai trị, dân chúng sẽ được mọi sự lành bằng an, và triều đại của Ngài sẽ kéo dài đến vô tận.

[2] Phúc Âm: Đây là gia phả Đức Giê-su Kitô, con vua David, con tổ phụ Abraham.

[2.1] Sự quan trọng của gia phả: Truyền thống Do-thái đề cao sự quan trọng của gia phả. Trong Cựu Ước, chúng ta gặp nhiều lần những đề cập đến gia phả (x/c Gen 5:1, 10:1, 11:10, 27). Sở dĩ người Do-thái quan trọng hóa gia phả là vì họ muốn xem ai thuộc giòng tộc hoàn hảo nhất, không bị ảnh hưởng bởi giòng máu ngoại lai. Khi một người bị quá nhiều giòng máu ngoại lai, người ấy có thể bị mất đặc quyền được gọi là người Do-thái, Dân Riêng của Thiên Chúa. Một thầy tư tế phải chứng minh mình thuộc giòng tộc của Aaron; và nếu thầy tư tế đó kết hôn, người đàn bà đó phải có gia phả rõ ràng, ít nhất là năm đời. Khi Ezra thành lập hàng tư tế sau khi từ chốn lưu đày trở về, ông đã từ chối chức tư tế của: con cái của Habaiah, con cái của Koz, và con cái của Barzillai; vì ông không tìm thấy gia phả của họ trong Thượng Hội Đồng (x/c Ezra 2:62).

[2.2] Những điều quan trọng tìm thấy trong gia phả của Đức Kitô: Gia phả của Ngài được chia làm 3 giai đoạn chính, mỗi giai đoạn gồm 14 đời:
(1) Từ tổ-phụ Abraham tới vua David: Thời của tổ-phụ Abraham đánh dấu việc Thiên Chúa chọn dân tộc Israel và hứa sẽ ban cho ông con cháu đông đúc và dẫn vào Đất Hứa. Thời của vua David đánh dấu sự lớn mạnh của vương quốc Israel. Đây là thời đại hoàng kim của Israel, vì vua David đã thống nhất 12 chi tộc Israel, mở rộng bờ cõi và lên ngôi cai trị họ. Danh xưng của Chúa Giê-su là "Con vua David" đã được nhắc tới 58 lần bởi các nhân vật khác nhau trong Tân Ước, chứng tỏ người Do-thái rất quan tâm đến gia phả của Đức Kitô. Họ chờ đợi Đấng Thiên Sai, xuất thân từ giòng dõi vua David, sẽ đến giải phóng họ khỏi tay quân thù, và lên ngôi cai trị muôn đời.
(2) Từ vua David tới Thời Lưu Đày bên Babylon: Sau thời của David, vương quốc Israel bắt đầu xuống dốc: bắt đầu bằng việc chia đôi đất nước, chạy theo vua chúa và các thần ngoại bang, vương quốc miền Bắc bị rơi vào tay của vua Assyria năm 721 BC, vương quốc miền Nam bị rơi vào tay của vua Babylon năm 587 BC. Từ vua quan đến dân chúng đều bị dẫn đi lưu đày trong vòng 50 năm cho đến năm 538 BC, khi vua Ba-tư là Cyrus nghe lời Thiên Chúa phóng thích cho dân Do-thái được hồi hương.
(3) Từ Thời Lưu Đày bên Babylon đến Đức Kitô: Đây được coi là thời gian hy vọng vào Đấng Thiên Sai, mà nhiều ngôn sứ loan báo, sẽ đến. Ezra và Nehemiah lãnh đạo việc xây dựng lại Đền Thờ và khôi phục đất nước. Phần lớn người Do-thái chỉ quan tâm đến việc giải phóng đất nước khỏi tay quân thù; vì thế, họ chờ đợi một Đấng Thiên Sai uy quyền, sẽ dùng sức mạnh và quyền năng để tiêu diệt quân thù, và khôi phục địa vị cho vương quốc Israel như thời vua David.

[2.3] Thời đại của Đức Kitô, Đấng cứu Thế: Theo gia phả con người, Chúa Giê-su là con ông Giuse và bà Ma-ri-a. Ông Giuse là con vua David và Chúa Giê-su cũng sinh ra tại Bethlehem, nơi mà vua David đã sinh ra. Trình thuật Matthew nói rõ Ma-ri-a có thai là "do quyền năng Chúa Thánh Thần." Khi thấy Ma-ri-a có thai trước khi hai ông bà về chung sống; ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giuse, con vua David, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su."
+ Chính Chúa Giê-su sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ: Ngược lại với lòng mong muốn của đa số dân Do-thái về một Đấng Thiên sai uy quyền, sẽ đến giải phóng dân khỏi ách nô lệ của ngoại bang; Đức Kitô chấp nhận thân phận của một Đấng Thiên Sai đau khổ: chịu chết trên Thập Giá, để giải thoát toàn dân khỏi quyền lực của tội lỗi và sự chết.
+ Tất cả sự việc này đã xảy ra là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ Isaiah: "Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta" (Isa 7:14). Bản Bảy Mươi dùng chữ "pathernon" để chỉ "trinh-nữ;" trong khi Bản MT, dùng chữ "almah:" có thể là một người phụ nữ trẻ hay một người đồng trinh. Truyền thống Công Giáo dùng cả Isa 7:14 và Mt 1:18 để xác tín: Mẹ Ma-ri-a trọn đời đồng trinh.

--------------------------------------------------------------------------------
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta phải tin các tín điều đã được nghiên cứu cẩn thận và được tuyên bố bởi Giáo Hội qua các Công Đồng. Đừng để các lạc thuyết mê hoặc chúng ta.

- Thiên Chúa đã chuẩn bị cho nhân loại ngay từ đầu một Kế Hoạch Cứu Độ. Theo kế hoạch này, Đức Kitô sẽ đến trong thân xác con người để chuộc tội cho con người.

************
Viết bởi LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP
************

copied from loinhapthe.com

6 tháng 9, 2014

Chúa Nhật XXIII Thường Niên


------------ BÀI ĐỌC I ------------
Lời Chúa trích sách Ngôn sứ Ê-dê-ki-en

(7) Phần ngươi, hỡi con người, Ta đã đặt ngươi làm người canh gác cho nhà Ít-ra-en. Ngươi sẽ nghe lời từ miệng Ta phán ra, rồi thay Ta báo cho chúng biết.
(8) Nếu Ta phán với kẻ gian ác rằng: "Hỡi tên gian ác, chắc chắn ngươi phải chết", mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó.
(9) Ngược lại, nếu ngươi đã báo cho kẻ gian ác phải từ bỏ con đường của nó mà trở lại, nhưng nó không trở lại, thì nó sẽ phải chết vì tội của nó; còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng sống mình. (Ez 33, 7-9)

------------ BÀI ĐỌC II ------------
Lời Chúa trích trong thư của Thánh Phao-lô Tông đồ gởi tín hữu Rô-ma

(8) Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật.
(9) Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.
(10) Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy. (Rom 13, 8-10)

------------ PHÚC ÂM ------------
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Mát-thêu

(15) Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em.
(16) Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân.
(17) Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế.
(18) Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy.
(19) Thầy còn bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho.
(20) Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ. (Mt 18, 15-20)

 --------------------------------------------------------------------------------
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Sửa lỗi cho nhau.

Sống chung là có đụng. Khi có đụng thì có người sai người đúng. Làm sao biết được ai sai ai đúng? Sửa lỗi cho nhau là cách để nhận ra. Nhưng sửa lỗi là vấn đề hết sức tế nhị, vì tự ái nên không ai muốn nhận phần sai về mình. Nhiều người nhận thấy việc sửa lỗi hại nhiều hơn lợi nên chọn thái độ dĩ hòa vi quý để gia đình hay cộng đoàn được bình an. Nhưng sự bình an này chỉ tạm thời và giả tạo vì những tật xấu cá nhân không kịp thời sửa chữa sẽ dần dần lan ra và tác hại trên cộng đoàn.
Thái độ lẩn tránh này cũng bị Thiên Chúa kết tội trong bài đọc I hôm nay vì sự hư mất của một linh hồn nếu không được sửa lỗi. Bài đọc II nhấn mạnh về thái độ phải có khi sửa lỗi: Vì yêu thương chứ không vì bất cứ một lý do nào khác. Bài Phúc Âm đưa ra một tiến trình thứ tự trong việc sửa lỗi hầu bảo đảm được kết quả mong muốn.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

[1] Bài đọc I: Bổn phận phải sửa dạy và loan báo nguy hiểm của các tiên tri.

Bài đọc I dùng phân từ “ƒôpeh,” đến từ động từ “ƒ¹pâ”. Động từ này có nghĩa là canh gác để khi có dấu hiệu nguy hiểm thì đánh chuông báo động cho mọi người được biết. Trong Sách Khôn Ngoan, động từ được dùng cho người nội trợ khôn ngoan là người luôn biết thu xếp lo liệu cho mọi nhu cầu có thể xảy ra trong nhà (Prov 31:27). Cũng vậy, Thiên Chúa luôn quan sát những gì xảy ra trên thế giới để xét xử cách công minh cho mọi người (Prov 15:3; cf Psa 66:7). Phân từ “ƒôpeh” có nghĩa người canh gác, người luôn ở nơi cao trên tường thành và chịu trách nhiệm loan báo cho Bộ Chỉ Huy biết mọi nguy hiểm có thể xảy ra bất cứ lúc nào (1Sam 14:16; 2 Sam 18:24ff; 2 Kgs 9:17-20). Nếu người canh gác không tỉnh thức chu toàn bổn phận, ông có thể bị tử hình.

Nhiệm vụ của tiên tri đôi khi được mô tả theo ngôn ngữ này như Chúa phán cùng tiên tri Ezekiel: “Hỡi con người, Ta đã đặt ngươi làm người canh gác cho nhà Israel. Ngươi sẽ nghe lời từ miệng Ta phán ra, rồi thay Ta báo cho chúng biết.” (Eze 3:17; cf Eze 33:7; Jer 6:17; Hab 2:1). Mặc dù Thiên Chúa luôn trung thành trong việc gởi các người canh gác của Ngài là các tiên tri đến sửa dạy dân chúng, nhưng nhiều người đã nhắm mắt làm ngơ trước những lời cảnh giác của họ (Isa 56:10). Sự thất bại của những người canh gác và sự từ khước những sứ giả thật là những lý do chính tại sao Israel bị tàn phá và bị lưu đày. Ngược lại, các tiên tri thật sẽ là những người canh gác đầu tiên ca tụng ơn cứu độ của Thiên Chúa (Isa 52:7-10).

Như người canh gác có thể bị tử hình nếu không chịu loan báo kịp thời những nguy hiểm xảy ra, người có trách nhiệm không chịu sửa lỗi cho những người dưới quyền mình cũng sẽ phải chịu hậu quả như vậy trước mặt Thiên Chúa. Điều này được Ngài tuyên phán rõ ràng hôm nay: “Nếu Ta phán với kẻ gian ác rằng: "Hỡi tên gian ác, chắc chắn ngươi phải chết," mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó.”

Bổn phận của người có trách nhiệm là phải nói, bổn phận của người dưới quyền là sửa. Cả hai đều phải chịu phán xét trước tòa Chúa. Nếu người có bổn phận đã nói mà người dưới quyền không chịu sửa, tội về phần người dưới quyền: “Ngược lại, nếu ngươi đã báo cho kẻ gian ác phải từ bỏ con đường của nó mà trở lại, nhưng nó không trở lại, thì nó sẽ phải chết vì tội của nó; còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng sống mình.”

[2] Bài đọc II: Mến Chúa, yêu người. Yêu mến là chu toàn Lề Luật.

[2.1] Sửa dạy vì yêu thương: Lý do chính của việc sửa dạy là yêu thương. Thiên Chúa là nguồn mạch yêu thương nên đã khôn ngoan bố trí cho con cái Ngài có rất nhiều người canh gác để canh giữ họ khỏi mọi nguy hiểm phần hồn cũng như phần xác: trong nhà có cha mẹ, anh chị em; nơi học đường có thầy cô; nơi nhà thờ có các cha; giáo hội địa phương có các giám mục; và Giáo Hội hoàn vũ có Đức Giáo Hoàng và hàng Giáo Phẩm của ngài.

Những người canh gác của Thiên Chúa được đòi hỏi bắt chước Thiên Chúa để hướng dẫn những người Chúa trao như Người Mục Tử Tốt Lành: đi tìm con chiên lạc, băng bó chiên bị thương, vỗ béo chiên gầy còm, tìm đồng cỏ xanh và suối mát cho chiên ăn uống. Người Mục Tử Tốt Lành sẵn lòng thí mạng sống để bảo vệ chiên mình khỏi nanh vuốt cho sói hay kẻ trộm, khỏi rơi xuống vực thẳm, chứ không để chiên lang thang khắp nơi làm mồi ngon cho mọi nguy hiểm.

Những người dưới quyền cũng được đòi để yêu mến và kính trọng những người canh gác như những đại diện của Chúa, vâng lời họ để họ có thể chu toàn sứ vụ Chúa trao, và nhất là cho chính bản thân mình khỏi mọi nguy hiểm. Người Mục Tử Tốt Lành phải biết chiên của mình, nhưng chiên của ông cũng phải biết ông và nghe tiếng ông; để đừng đi theo tiếng gọi của người lạ và nghe theo những lời dụ dỗ ngon ngọt của họ.

Nói tóm, tất cả mọi thành phần đều phải có nhân đức yêu thương để làm căn bản cho mọi họat động nhất là việc sửa lỗi, như lời thánh Phaolô dạy: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật.”

[2.2] Sửa dạy vì các lý do khác: Một lý do đầu tiên là sửa dạy để thỏa mãn tính nóng giận. Khi gặp ai làm những gì trái ý, nhất là trong những lúc mệt mỏi và dưới nhiều áp lực, con người thường dễ nổi nóng, la hét, đập phá, chửi rủa… Sửa dạy trong lúc nóng giận như thế chẳng những sẽ không đạt được kết quả mong muốn mà còn gây thêm hận thù, khinh thường, và đổ vỡ trong gia đình. Cách tốt nhất là đừng bao giờ sửa dạy trong lúc nóng giận, hãy đi vào phòng hay tìm chỗ yên tĩnh nghỉ ngơi, suy nghĩ qua đêm để tìm phương cách thích hợp và những lời lẽ khôn ngoan để cố đạt được kết quả mong muốn. Một lý do khác là sửa dạy để vạch ra những lầm lỗi của đối phương cho người khác nhìn thấy. Khi một người bị sửa dạy vì ý hướng này họ sẽ tìm mọi cách để biện hộ vì tự ái của họ, và như thế cũng không đạt kết quả như ý muốn của việc sửa lỗi. Một lý do nữa là thái độ “vạch lá tìm sâu” như thái độ của các Kinh-sư và Biệt-phái, họ tìm cách làm giảm danh giá của người khác để bảo vệ danh tiếng hay gìn giữ khán giả của họ.

[3] Phúc Âm: Bổn phận và cách sửa dạy.

Chúa Giêsu đưa ra tiến trình của việc sửa lỗi gồm 3 giai đoạn phải theo như sau:

(1) Bước đầu tiên là giữa hai người mà thôi: "Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em.” Con người ai cũng có tự ái dẫu biết mình làm sai, họ không muốn bị sửa sai trước mặt người khác, nhất là trước mặt những người thân tín của họ. Bước này cũng cần thiết để bảo vệ công bằng vì hai bên cần biết tất cả những gì liên quan đến sự việc đã xảy ra hầu xét đoán cho đúng đắn.

(2) Kế tiếp cần hai hoặc ba chứng nhân: “Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân.” Mục đích của bước này là để chứng thực điều lầm lỗi. Luật lệ người Do-Thái công nhận lời chứng của hai hay ba chứng nhân là sự thật.

(3) Bước cuối cùng là đưa bị can ra trước mặt cộng đoàn (ekklêsía): “Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa cộng đoàn. Nếu cộng đoàn mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế.” Mục đích của bước cuối cùng này là để bảo vệ quyền lợi của đương sự cũng như quyền lợi chung của cộng đoàn. Cộng đoàn hiện diện là do sự tập hợp của nhiều cá nhân và được bảo vệ bằng các luật lệ và hình phạt mà mọi người đã đồng ý thi hành. Một khi đương sự không chịu tuân giữ các qui luật thì cũng chẳng còn lý do gì để ở trong cộng đoàn nữa.

 --------------------------------------------------------------------------------
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Sửa lỗi nhau là một công việc hết sức tế nhị và khó khăn. May mắn cho chúng ta vì Chúa đã để lại cho chúng ta một cách sửa lỗi sao cho có hiệu quả. Chúng ta cần theo đúng những bước này mỗi khi phải sửa lỗi anh em.

- Hai thái cực cần tránh trong việc sửa lỗi: Thái độ “xin cho hai chữ bình an” không giải quyết được vấn đề vì trước hay sau rồi cũng phải giải quyết. Thái độ này cũng bị luận tội bởi Thiên Chúa vì đã không chu toàn bổn phận của người canh gác. Ngược lại thái độ xét xử người khác từng ly từng tí và mọi nơi mọi lúc cũng không nên làm vì người được sửa sẽ nhàm chán và không muốn nghe.

- Để việc sửa lỗi có hiệu quả đòi tất cả mọi người phải có tâm hồn yêu thương. Mục đích của việc sửa lỗi là để cứu vớt tội nhân, cho họ có cơ hội ăn năn trở lại, chứ không phải vì bất kỳ một lý do nào khác.

************
Viết bởi LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP
************

copied from loinhapthe.com

5 tháng 9, 2014

Thứ Bảy Tuần XXII Thường Niên


 ------------ BÀI ĐỌC I ------------
Lời Chúa trích trong thư thứ nhất của Thánh Phao-lô Tông đồ gởi tín hữu Cô-rin-tô

(9) Thật vậy, tôi thiết nghĩ: Thiên Chúa đã đặt chúng tôi làm Tông Đồ hạng chót như những kẻ bị án tử hình, bởi vì chúng tôi đã nên trò cười cho thế gian, cho thiên thần và loài người!
(10) Chúng tôi điên dại vì Đức Ki-tô, còn anh em thì khôn ngoan trong Đức Ki-tô; chúng tôi yếu đuối, còn anh em thì mạnh mẽ; anh em được kính trọng, còn chúng tôi thì bị khinh khi.
(11) Cho đến giờ này, chúng tôi vẫn chịu đói khát, trần truồng, bị hành hạ và lang thang phiêu bạt;
(12) chúng tôi phải vất vả tự tay làm lụng. Bị nguyền rủa, chúng tôi chúc lành; bị bắt bớ, chúng tôi cam chịu;
(13) bị vu khống, chúng tôi đem lời an ủi. Cho đến bây giờ, chúng tôi đã nên như rác rưởi của thế gian, như phế vật đối với mọi người.
(14) Tôi viết những lời đó không phải để làm anh em xấu hổ, nhưng là để sửa dạy anh em như những người con yêu quý của tôi.
(15) Thật thế, cho dầu anh em có ngàn vạn giám thị trong Đức Ki-tô, anh em cũng không có nhiều cha đâu, bởi vì trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em. (1 Cor 4, 9-15)

 ------------ PHÚC ÂM ------------
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Lu-ca

(1) Vào một ngày sa-bát, Đức Giê-su đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ bứt lúa, vò trong tay mà ăn.
(2) Nhưng có mấy người Pha-ri-sêu nói: "Tại sao các ông làm điều không được phép làm ngày sa-bát?"
(3) Đức Giê-su trả lời: "Các ông chưa đọc chuyện này trong Sách sao? Ông Đa-vít đã làm gì khi ông và thuộc hạ đói bụng?
(4) Ông vào nhà Thiên Chúa lấy bánh tiến mà ăn và cho thuộc hạ ăn. Thứ bánh này, chỉ có tư tế mới được ăn mà thôi."
(5) Rồi Người nói: "Con Người làm chủ ngày sa-bát." (Lc 6, 1-5)

--------------------------------------------------------------------------------
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Chịu đau khổ vì Tin Mừng.

Người đời có thể hy sinh chịu đau khổ, thời giờ, sức lực… với hy vọng họ sẽ lãnh nhận lại uy quyền, danh vọng, và những lợi lộc vật chất; nhưng vì động lực nào các môn đệ của Chúa dám hy sinh chịu đau khổ, thời giờ, sức lực, tiền của? Nhiều tín hữu bị khinh thường là làm việc không công!
Các bài đọc hôm nay giúp chúng ta nhận ra những động lực thúc đẩy Phaolô và các tín hữu làm việc. Trong bài đọc I, thánh Phaolô thú nhận ngài đã trở nên điên dại vì Đức Ki-tô với một mục đích duy nhất là làm cho mọi người nhận ra tình yêu của Đức Ki-tô đã dành cho họ và tin tưởng nơi Ngài. Trong Phúc Âm, Chúa Giê-su bảo vệ các môn đệ bằng cách nhắc nhở cho các Kinh-sư và Biệt-phái biết họ đừng vụ luật; nhưng phải biết giữ ngày Sabbath cho lợi ích của linh hồn và thân xác họ.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

[1] Bài đọc I: Những động lực thúc đẩy Phaolô chịu đau khổ.

(1) Chịu đau khổ vì Đức Ki-tô: Cũng như các tiên tri của Cựu Ước, một khi đã chấp nhận làm tiên tri của Chúa là phải chịu đau khổ; các Tông Đồ của Tân Ước cũng vậy, họ phải chịu mọi gian nan thử thách vì Tin Mừng của Đức Ki-tô. Lý do là vì thế gian không luôn muốn đón nhận Sự Thật và lối sống theo Tin Mừng. Thánh Phaolô cũng không ra ngoài trường hợp này. Ngài phải chịu đau khổ trăm chiều vì Đức Ki-tô như lời ngài viết: “Thật vậy, tôi thiết nghĩ: Thiên Chúa đã đặt chúng tôi làm Tông Đồ hạng chót như những kẻ bị án tử hình, bởi vì chúng tôi đã nên trò cười cho thế gian, cho thiên thần và loài người!”

Nhưng những gian khổ họ chịu không vô nghĩa vì nếu chung phần đau khổ với Chúa Ki-tô họ sẽ cùng chung phần vinh quang với Ngài trong vương quốc của Ngài đời sau.

(2) Chịu đau khổ cho người khác được lợi ích: Ngoài hy vọng được chung hưởng vinh quang đời sau, đau khổ sẽ giúp ích cho tha nhân ngay khi còn ở đời này. Những hy sinh cố gắng của các nhà truyền giáo sẽ mang hạt giống đức tin đến cho những người chưa nhận biết Chúa. Những giọt máu đào đổ ra sẽ giúp cho hạt giống đức tin sinh hoa kết quả nơi những người đã lãnh nhận, gia đình của họ, và giáo hội địa phương. Thánh Phaolô liệt kê một số các đau khổ ngài đã chịu, có lẽ để nhắc nhở các tín hữu biết quí trọng những gì ngài đã hy sinh cho họ: “Chúng tôi điên dại vì Đức Ki-tô, còn anh em thì khôn ngoan trong Đức Ki-tô; chúng tôi yếu đuối, còn anh em thì mạnh mẽ; anh em được kính trọng, còn chúng tôi thì bị khinh khi. Cho đến giờ này, chúng tôi vẫn chịu đói khát, trần truồng, bị hành hạ và lang thang phiêu bạt; chúng tôi phải vất vả tự tay làm lụng. Bị nguyền rủa, chúng tôi chúc lành; bị bắt bớ, chúng tôi cam chịu; bị vu khống, chúng tôi đem lời an ủi. Cho đến bây giờ, chúng tôi đã nên như rác rưởi của thế gian, như phế vật đối với mọi người.”

Như cha mẹ phải vất vả lo lắng, làm việc, và dạy dỗ con cái, thánh Phaolô cũng coi mình như một người cha tinh thần của các tín hữu. Vì thế, ngài không ngại chấp nhận mọi hy sinh và đau khổ với hy vọng cho những người con tinh thần của ngài được lớn lên trong đức tin và được hưởng muôn vàn lợi ích thiêng liêng qua việc tin tưởng vào Đức Ki-tô. Ngài tâm sự: “Tôi viết những lời đó không phải để làm anh em xấu hổ, nhưng là để sửa dạy anh em như những người con yêu quý của tôi. Thật thế, cho dầu anh em có ngàn vạn giám thị trong Đức Ki-tô, anh em cũng không có nhiều cha đâu, bởi vì trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em.”

[2] Phúc Âm: Biệt-phái xét đoán các môn đệ Chúa.

Các Kinh-sư và Biệt-phái không tố cáo các môn đệ của Chúa lỗi đức công bằng, vì luật cho phép có thể bứt bông lúa ăn bằng tay, nhưng không được tra liềm cắt lúa (Dt 23:26). Họ tố cáo các môn đệ vì dám vi phạm ngày Sabbath. Những việc cấm làm trong ngày Sabbath là gặt hái, đập lúa, sàng xẩy, và chuẩn bị đồ ăn. Theo họ, các môn đệ vi phạm tất cả các điều này khi bứt lúa, vò trong tay (coi như đập lúa), thổi vỏ trấu (sàng lúa), và chuẩn bị đồ ăn trước khi cho vào miệng. Chúng ta có thể cười thầm vì lối nhìn của họ, nhưng đối với họ, những người vi phạm ngày Sabbath như thế có thể bị tử hình!

Đức Giê-su trả lời họ bằng việc nhắc nhở họ biến cố được ghi chép lại trong I Sam 21:1-6. "Các ông chưa đọc chuyện này trong Sách sao? Ông Đavid đã làm gì khi ông và thuộc hạ đói bụng? Ông vào nhà Thiên Chúa lấy Bánh Tiến mà ăn và cho thuộc hạ ăn. Thứ bánh này, chỉ có tư tế mới được ăn mà thôi." Ở đây Chúa Giê-su muốn nói: Luật nào cũng có luật trừ. Luật ăn Bánh Tiến được vi phạm để bảo vệ sự sống cho Đavid và thuộc hạ của ông.

Chính những Rabbi cũng công nhận “Ngày Sabbath được làm ra cho con người, chứ không phải con người cho ngày Sabbath.” Điều này chứng tỏ khi sự sống bị đe dọa, con người có thể vi phạm các luật ngày Sabbath.

Và Chúa Giê-su kết luận: “Thiên Chúa làm chủ ngày Sabbath.” Nếu ngày Sabbath được làm ra vì con người, luật lệ ngày đó chỉ để áp dụng cho con người, chứ không cho Thiên Chúa. Chúa Giê-su chữa bệnh trong ngày Sabbath vì (1) Ngài làm chủ ngày Sabbath, và (2) bệnh tật đe dọa sự sống con người.

 --------------------------------------------------------------------------------
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúng ta sẵn sàng chịu đau khổ vì Đức Ki-tô vì biết chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang đời sau với Ngài.

- Chúng ta sẵn sàng chịu đau khổ cho tha nhân được sống. “Nếu hạt giống rơi xuống đất mà không chết đi, nó chỉ trơ trọi một mình; nhưng nếu nó chịu chết đi, nó sẽ trổ sinh nhiều bông hạt khác.”

- Đừng cố vạch lá tìm sâu bằng cách bắt tha nhân giữ tỉ mỉ các lề luật, nhưng hãy lo cho sao có lòng nhân từ và bảo vệ công lý.

************
Dịch bởi LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP
************

copied from loinhapthe.com

Thứ Sáu Tuần XXII Thường Niên


------------ BÀI ĐỌC I ------------
Lời Chúa trích trong thư thứ nhất của Thánh Phao-lô Tông đồ gởi tín hữu Cô-rin-tô

(1) Vậy chớ gì thiên hạ coi chúng tôi như những đầy tớ của Đức Ki-tô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa.
(2) Mà người ta chỉ đòi hỏi ở người quản lý một điều, là phải chứng tỏ lòng trung thành.
(3) Đối với tôi, dù có bị anh em hay toà đời xét xử, tôi cũng chẳng coi là gì. Mà tôi, tôi cũng chẳng tự xét xử lấy mình.
(4) Quả thật, tôi không thấy lương tâm áy náy điều gì, nhưng đâu phải vì thế mà tôi đã được kể là người công chính. Đấng xét xử tôi chính là Chúa.
(5) Vậy xin anh em đừng vội xét xử điều gì trước kỳ hạn, trước ngày Chúa đến. Chính Người sẽ đưa ra ánh sáng những gì ẩn khuất trong bóng tối, và phơi bày những ý định trong thâm tâm con người. Bấy giờ, mỗi người sẽ được Thiên Chúa khen thưởng đích đáng. (1 Cor 4,1-5)

------------ PHÚC ÂM ------------
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Lu-ca

(33) Họ nói với Người: "Môn đệ ông Gio-an năng ăn chay cầu nguyện, môn đệ người Pha-ri-sêu cũng thế, còn môn đệ ông thì ăn với uống! "
(34) Đức Giê-su trả lời: "Chẳng lẽ các ông lại có thể bắt khách dự tiệc cưới ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ?
(35) Sẽ có ngày chàng rể bị đem đi; ngày đó, họ mới ăn chay."
(36) Đức Giê-su còn kể cho họ nghe dụ ngôn này: "Chẳng ai xé áo mới lấy vải vá áo cũ, vì như vậy, không những họ xé áo mới, mà miếng vải áo mới cũng không ăn với áo cũ.
(37) "Không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu mới sẽ làm nứt bầu, sẽ chảy ra và bầu cũng hư.
(38) Nhưng rượu mới thì phải đổ vào bầu mới.
(39) Cũng không ai uống rượu cũ mà còn thèm rượu mới. Vì người ta nói: "Rượu cũ ngon hơn." (Lc 5, 33-39)

--------------------------------------------------------------------------------
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Vấn đề xét đoán.

Xét đoán là điều con người thường xuyên làm trong cuộc đời. Tuy nhiên, không phải xét đoán nào cũng đúng và có giá trị ngang nhau. Các Bài đọc hôm nay nói về các loại phán đoán và vạch ra cái đúng cũng như sai của nó.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

[1] Bài đọc I: Dân thành Cô-rin-tô xét đoán Phao-lô.

Thánh Phao-lô không muốn cho người ta gọi ngài, người rao giảng của Chúa Ki-tô là nhà lãnh đạo, nhưng muốn được gọi là: đầy tớ (huperétes) và quản gia (hoikonómos). Người đầy tớ là người làm theo ý của chủ mình khi được ra lệnh. Người quản gia chịu trách nhiệm mọi việc trong nhà: điều khiển các người làm việc, mua bán những vật dụng cần thiết và giữ sổ sách cho chủ. Tuy quyền hành có cao hơn những đầy tớ khác, nhưng đối với chủ, người quản gia cũng chỉ là đầy tớ. Điều này có thể áp dụng cho mọi chức vụ trong Giáo Hội, cho dẫu có bao nhiêu quyền hành hay danh vọng, họ vẫn chỉ là đầy tớ của Chúa Ki-tô.

Đặc tính của người quản gia là phải đáng tin cậy vì chủ đặt trọn vẹn niềm tin nơi ông. Vì vậy, ông sẽ bị xét xử từ 3 nguồn:

[1.1] Xét xử bởi người đời: Thánh Phao-lô khẳng định: “Đối với tôi, dù có bị anh em hay toà đời xét xử, tôi cũng chẳng coi là gì.” Thông thường những xét xử của người đời không chính xác cho lắm vì không nắm giữ được toàn bộ các dữ kiện liên quan; nhất là còn bị ảnh hưởng bởi nhiều những nguyên do khác: chủ quan, ghen tương, lấy điểm… Tuy nhiên, những nhận định này là buớc đầu giúp đương sự kiểm điểm các hành động của mình. Thánh Phao-lô có lẽ thốt lên những lời trên sau khi đã tự kiểm điểm mình trước tôn nhan Chúa.

[1.2] Xét xử bởi chính mình: Thánh Phao-lô cũng xác quyết: “Quả thật, tôi không thấy lương tâm áy náy điều gì, nhưng đâu phải vì thế mà tôi đã được kể là người công chính. Mà tôi, tôi cũng chẳng tự xét xử lấy mình.” Những lời này cho thấy sự cẩn thận của Phao-lô: Cho dù mình xét xử chính mình cũng chưa chắc hoàn toàn đúng vì có thể bị chi phối bởi tính tự mãn, kiêu ngạo, hay tự đánh lừa. Tuy nhiên, tự xét mình cần thiết trong tiến trình trở nên hoàn hảo. Phải biết mình trước khi biết các tương quan với Thiên Chúa và tha nhân.

[1.3] Xét xử bởi Thiên Chúa: Đây là sự xét xử mà Phao-lô quan tâm tới và chỉ xét xử bởi Thiên Chúa mới hoàn toàn đúng vì: (1) Chỉ mình Ngài biết mọi hoàn cảnh liên quan tới việc làm của đương sự; (2) Chỉ mình Ngài nhìn thấu những lý do tại sao đương sự làm những việc đó; (3) Chỉ Thiên Chúa không bị chi phối bởi bất kỳ giới hạn nào như con người.

Vì những lý do này, nên Thánh Phao-lô khuyên: “Vậy xin anh em đừng vội xét xử điều gì trước kỳ hạn, trước ngày Chúa đến. Chính Người sẽ đưa ra ánh sáng những gì ẩn khuất trong bóng tối, và phơi bày những ý định trong thâm tâm con người. Bấy giờ, mỗi người sẽ được Thiên Chúa khen thưởng đích đáng.”

[2] Phúc Âm: Các Biệt-phái và Kinh-sư xét đoán Chúa Giê-su và các môn đệ của Ngài.

Đối với các Biệt-phái và Kinh-sư, cầu nguyện và ăn chay là hai tiêu chuẩn dùng để xét xử con người có đạo đức hay không, và một cách gián tiếp, đánh giá người Thầy của các môn đệ đó. Bằng một câu hỏi, họ đã xét xử và kết tội Chúa và các môn đệ của Ngài là những người không đạo đức vì mê ăn uống. Họ nói với Người: "Môn đệ ông Gio-an năng ăn chay cầu nguyện, môn đệ người Biệt-phái cũng thế, còn môn đệ ông thì ăn với uống!"

Đức Giê-su trả lời: "Chẳng lẽ các ông lại có thể bắt khách dự tiệc cưới ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ? Sẽ có ngày chàng rể bị đem đi; ngày đó, họ mới ăn chay." Mục đích của việc ăn chay, theo truyền thống của người Do-thái, là dâng chính thân xác mình để cầu xin sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời. Các môn đệ không cần phải ăn chay vì họ đang có Chúa hiện diện giữa họ. Chàng rể là Chúa Giê-su và khách dự tiệc là những môn đệ của Chúa. Sẽ có ngày Chúa Giê-su rời bỏ các môn đệ, lúc đó họ sẽ ăn chay.
Thời đại nào cũng có sự phân biệt và giằng co giữa cái mới và cái cũ. Có những người luôn chống lại với cái mới và tìm mọi cách để bảo vệ cái cũ như các Biệt-phái và Kinh-sư hôm nay. Chúa Giê-su không hoàn toàn chống lại những cái cũ của họ vì có những cái cũ tốt cần được giữ lại, nhưng Chúa muốn cho họ chấp nhận những cái mới để kiện toàn những cái cũ, hay loại bỏ đi những cái cũ không hay. Nhưng để có thể chấp nhận những cái mới, họ cần có một tâm hồn hay trái tim mới. Ngài dùng hai dụ ngôn này để dẫn chứng điều này:

(1) "Chẳng ai xé áo mới lấy vải vá áo cũ, vì như vậy, không những họ xé áo mới, mà miếng vải áo mới cũng không ăn với áo cũ.” Khi vá áo, con người thường chọn miếng vá từ những vải dư thừa hay áo cũ chứ không ai dại cắt miếng vá từ áo mới. Không những thế, họ còn phải chọn miếng vá nào cùng mầu và cùng độ giãn với áo cũ; nếu không, độ giãn của miếng vá mới sẽ làm cho chỗ rách tệ hại hơn.

(2) ”Không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu mới sẽ làm nứt bầu, sẽ chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì phải đổ vào bầu mới. Cũng không ai uống rượu cũ mà còn thèm rượu mới. Vì người ta nói: "Rượu cũ ngon hơn."” Bầu da mới có độ co giãn trong khi bầu da cũ đã khô và mất hết độ co giãn. Rượu mới có rất nhiều áp suất, đó là lý do tại sao phải đổ vào bầu da mới. Các Biệt-phái và Kinh-sư cũng giống như những người thích uống rượu cũ, vì họ luôn bảo vệ những truyền thống và quay lưng lại với những thay đổi mới.

 --------------------------------------------------------------------------------
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúng ta đừng vội xét đoán tha nhân khi chưa có đủ bằng chứng.

- Chúng ta đừng quá chú trọng đến những lời phê bình chỉ trích của tha nhân cũng đừng quá chắc chắn với lối nhìn chủ quan của mình; chỉ có phán xét của Thiên Chúa mới hoàn toàn đúng.

- Chúng ta không nên mù quáng bảo vệ tất cả cái cũ, nhưng cũng đừng mang thái độ “có mới nới cũ.” Chúng ta cần khôn ngoan để mở lòng tiếp nhận cái mới tốt và có can đảm để vứt đi những cái cũ xấu.

************
Viết bởi LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP
************

copied from loinhapthe.com